Quốc hội thông qua LUẬT ĐỊA CHẤT và KHOÁNG SẢN - CÔNG TY CỔ PHẦN THẨM ĐỊNH GIÁ BIG VIỆT NAM

Quốc hội thông qua LUẬT ĐỊA CHẤT và KHOÁNG SẢN

– Sáng 29/11/2024, Quốc hội đã tiến hành quyết định thông qua Luật Địa chất và khoáng sản với số phiếu bầu thành cao.

Quốc hội thông qua LUẬT ĐỊA CHẤT và KHOÁNG SẢN- Ảnh 1.

Dưới sự điều khiển của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải, Quốc hội tiến hành biểu quyết thông qua Luật Địa chất và khoáng sản.

Kết quả biểu quyết điện tử cho thấy, có 446/448 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, sử dụng 93,11% tổng số đại biểu Quốc hội.

Như vậy, với tỷ lệ phân tán thành cao, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Địa chất và sản phẩm tự động.

Quốc hội thông qua LUẬT ĐỊA CHẤT và KHOÁNG SẢN- Ảnh 2.

Giao Bộ TNMT trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục khoáng sản chiến lược, quan trọng

Trình bày báo cáo tóm tắt về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh sửa dự thảo Luật Địa chất và tự do sản phẩm, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Lê Quang Huy cho biết, ngày 28/11 /2024, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã có báo cáo số 1098/BC-UBTVQH15 về công việc giải mã, tiếp theo, chỉnh sửa dự thảo Luật Địa chất và khoáng sản (dự thảo Luật).

Về phân nhóm khoáng sản (Điều 6), tiếp theo thu ý kiến ​​ĐBQH, dự thảo Luật đã được kiểm soát, bổ sung, chỉnh sửa các quy định liên quan đối với các loại khoáng sản này trong quy định về chính sách của Nhà nước ( khoản 3 Điều 3), thăm dò khoáng sản chiến lược, quan trọng (Điều 41, Điều 44, Điều 47), khai thác thác khoáng sản chiến lược, quan trọng (Điều 65); không đấu giá quyền khai thác khoáng sản đối với một số khu vực khoáng sản chiến lược, quan trọng (khoản 2 Điều 100); giao Bộ Tài nguyên và Môi trường Thủ tướng Chính phủ duyệt danh mục khoáng sản chiến lược, quan trọng (điểm b khoản 2 Điều 107).

Quốc hội thông qua LUẬT ĐỊA CHẤT và KHOÁNG SẢN- Ảnh 3.

Quy định quyền lợi, tinh thần trách nhiệm của địa phương, cộng đồng, cá nhân nơi có tài nguyên địa chất, khoáng sản được khai thác thác

Giải trình ý kiến ​​đại biểu hiện quyền lợi, trách nhiệm của địa phương, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân nơi có tài nguyên địa chất, tự sản được khai thác thác (Điều 8), tiếp thu ý kiến ​​kiến ​​của ĐBQH , UBTVQH đã được xác nhận cần phải được xác định rõ ràng hơn về nội dung này. 

Theo đó, dự thảo Luật đã được bổ sung điểm đ khoản 1 Điều 8 theo quy định hướng dẫn: Căn cứ tình hoạt động khoáng sản trên địa bàn, Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh quyết định công việc ban hành quy định về trách nhiệm đóng góp kinh nghiệm của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản để đầu tư nâng cấp, duy tu, xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình bảo vệ môi trường trên địa bàn. 

Đồng thời, bổ sung khoản 3 Điều 8 giao Chính phủ quy định chi tiết để Chính phủ quy định một số nội dung như: nguyên tắc xác định thu, trình tự, thủ tục thu, bỏ ngân sách nhà nước, quản lý và sử dụng nguồn thu để đảm bảo thực hiện thống nhất trên toàn quốc.

Quốc hội thông qua LUẬT ĐỊA CHẤT và KHOÁNG SẢN- Ảnh 4.

Theo quy định nêu trên, việc quyết định khả năng thu thập phải căn cứ vào tình hình, hiệu quả hoạt động về sản phẩm tự nhiên trên địa bàn tỉnh. 

Trường hợp hợp động sản phẩm tự do trên địa bàn không hiệu quả thì Hội đồng nhân dân cấp tỉnh sẽ chủ động quyết định điều chỉnh tài khoản đóng góp này, tránh ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư của địa phương. 

Bên cạnh đó, sản phẩm hoạt động tự do thường không được hỗ trợ bởi người dân trên địa bàn do tác động không mong muốn đối với môi trường sống và hạ tầng kỹ thuật. 

Công việc tổ chức, sản phẩm cá nhân khai thác thác khoáng có những đóng góp cụ thể (cùng với tài khoản ngân sách nhà nước để nâng cấp, duy tu, xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình bảo vệ môi trường) phần góp ý tạo được sự đồng thuận ủng hộ của người dân khi phát triển dự án khai thác khoáng sản. 

Nhiều doanh nghiệp khai thác khoáng sản mong muốn có hành lang pháp lý cụ thể, rõ ràng để có cơ sở thực hiện.

Không có công cụ nào có thể điều chỉnh các quy định sẵn có trong luật

Về quy định khoảng trống sản phẩm nhóm I, quy trình khoảng trống sản phẩm nhóm II, phương pháp quản lý về địa chất, khoảng trống sản phẩm (Điều 12), tiếp theo ý kiến ​​​​ĐBQH, dự thảo Luật đã sửa đổi tên quy định khoảng trống sản phẩm tại khoản 1 Điều 12 là các khoảng trống của nhóm I và các khoảng trống của nhóm II để đảm bảo ngắn gọn, bao gồm các hàm liên kết nội dung. 

Đồng thời, hãy điều chỉnh quy tắc tên theo các quy định liên quan đến quy trình tự do trong Luật thảo. 

Để đảm bảo tính thống nhất của luật hệ thống, UBTVQH đã chỉ đạo điều chỉnh quy định gọi tên miễn phí tại nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Quy hoạch trong sửa đổi Luật, bổ sung một số điều của Luật Quy Kế hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác tư vấn và Luật Đấu thầu.

Quốc hội thông qua LUẬT ĐỊA CHẤT và KHOÁNG SẢN- Ảnh 5.

Tiếp theo ý kiến ​​​​ĐBQH, quy tắc chỉnh sửa dự thảo không được quy định cụ thể về việc điều chỉnh khoảng trống trong Luật thảo này. 

Điều chỉnh quy định pháp luật (trong đó có các phương pháp quản lý về địa chất, khoáng sản), quy hoạch khoáng sản nhóm I, quy hoạch khoáng sản nhóm II, thẩm quyền điều chỉnh đều phải bồi dưỡng pháp luật về quy hoạch ( khoản 4 Điều 12). 

Đồng thời, UBTVQH đã chỉ đạo điều chỉnh nội dung điều chỉnh quy trình theo trình tự, thủ tục rút gọn trong dự thảo sửa đổi luật, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác tư vấn và Luật Đấu thầu.

Bổ sung quy định cấp phép thăm dò sản phẩm khoáng sản

Về nguyên tắc cấp giấy phép thăm dò sản phẩm (Điều 43), tiếp theo ý kiến ​​​​ĐBQH, dự thảo Luật bổ sung sung tại điểm h khoản 1: “Mỗi tổ chức, cá nhân cấp không quá 05 giấy phép thăm dò với một loại khoáng sản, không kể giấy phép thăm dò sản phẩm đã hết hiệu lực. Trường hợp cấp quá 05 giấy phép cho cùng 01 tổ chức phải được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bằng văn bản”.

Quốc hội thông qua LUẬT ĐỊA CHẤT và KHOÁNG SẢN- Ảnh 6.

Quy định thời hạn Giấy phép khai thác khoáng sản phù hợp với thông lệ quốc tế

Về giấy phép khai thác khoáng sản (Điều 56), có ý kiến ​​đề nghị điều chỉnh quy định thời gian cấp phép là không quá 50 năm và thời gian gia hạn không quá 15 năm. 

Về nội dung này, UBTVQH xin báo cáo: Khoáng sản là tài sản công, việc thực hiện dự án đầu tư khai thác khoáng sản phải có cách tiếp cận khác nên dự án đầu tư thông thường khác. 

Việc quy định thời hạn của giấy phép khai thác khoáng lợi sản, bảo đảm thuận lợi cho tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản nhưng cần tính toán giảm thiểu các tác động không tích cực đến phát triển kinh tế – xã hội. 

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, giấy phép khai thác khoáng sản đều có thời hạn tối đa là 30 năm và được gia hạn một số năm. 

Quy định này cũng phù hợp với điều kiện thực tế là vòng đời của công nghệ khai thác khoáng sản sau 30 năm thường lạc hậu và cũng cần đầu tư đổi mới.

Quốc hội thông qua LUẬT ĐỊA CHẤT và KHOÁNG SẢN- Ảnh 7.

Điểm a khoản 4 Điều 56 dự thảo Luật đã quy định giấy phép khai thác khoáng sản có thời hạn không quá 30 năm và có thể được gia hạn nhiều lần, nhưng tổng thời gian gia hạn không quá 20 năm, tổng cộng là 50 năm , bằng cách thực hiện dự án đầu tư thông thường theo quy định của pháp luật đầu tư. 

Trên thực tế, có nhiều dự án sau 10 năm đã hoàn thành công việc khai thác thác thác, kết thúc dự án. Ngoài ra, dự thảo Luật quy định việc cấp lại giấy phép khai thác khoáng sản trong lĩnh vực giấy hợp pháp khai thác khoáng sản đã hết thời gian khai thác khoáng sản (báo cả thời gian gia hạn) nhưng còn trữ lượng. 

Như vậy, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho phép được giữ quy định về thời hạn giấy phép khai thác khoáng sản như điểm a khoản 4 Điều 56, đồng thời, đề nghị Chính phủ chỉ đạo để bảo đảm thuận lợi, dễ dàng về thủ Tiếp tục giấy phép có hạn.

Contact Me on Zalo